Đôi lời về việc:
Tổ chức chuyên đề văn học Cao dao và Dân ca tại trường THCS Yên Nhân
Tục ngữ, Cao dao và Dân ca là một phần rất phong phú trong kho tàng văn học dân gian vô cùng quý giá trong đời sống sinh hoạt văn hoá của nhân dân Việt Nam ta.
Khi chưa có chữ viết, văn học dân gian mà trong đó Tục ngữ, Cao dao và Dân ca là sản phẩm văn hoá tinh thần của đông đảo người Việt. Trải qua hàng ngàn năm thống trị của giai cấp phong kiến, người nông dân, có lẽ không chịu khuất phục, bằng lối nói văn chương thông qua các bài hát, điệu hò trong lao động, họ cất lên nỗi lòng và tự làm phong phú đời sống sinh hoạt tinh thần của chính mình.
Trong chương trình Ngữ văn, từ khi có nền giáo dục cách mạng, văn học dân gian nói chung và Tục ngữ, Cao dao và Dân ca nói riêng được đưa vào thành một nội dung giảng dạy rất quan trọng. Tìm hiểu Tục ngữ, Cao dao và Dân ca là tìm hiểu đời sống văn hoá tinh thần, tìm hiểu các mặt đời sống xã hội của ông cha ta. Và việc làm đó không bao giờ được coi là không cần thiết.
Với ý nghĩa như vậy, việc trường THCS Yên Nhân tổ chức chuyên đề lần này với chủ đề “ Tìm hiểu về Ca dao – Dân ca trong chương trình THCS ” là một việc làm đầy ý nghĩa. Trước hết tạo ra được không khí nghiên cứu, tìm hiểu và sưu tầm vốn cổ trong đội ngũ giáo viên, đồng thời tạo điều kiện cho các em học sinh tham gia hoạt động văn hoá dân gian, tập cho các em làm quen với những sinh hoạt văn học trong nhà trường là một việc rất bổ ích.
Trong thời gian có hạn, nhiều giáo viên tích cực tham gia chuẩn bị nội dung các bài viết, chuẩn bị các điều kiện khác; Đặc biệt, lần đầu tiên áp dung và phương tiện công nghệ thông tin vào sinh hoạt văn học là cố gắng rất lớn của đội ngũ giáo viên nhà trường.
Mặc dù còn có điều hạn chế, nhưng với phương châm “có hơn không”, những vấn đề đây đó còn khiếm khuyết sẽ được khắc phục và làm tiền đề cho các sinh hoạt văn hoá, văn học trong nhà trường thành nề nếp, góp phần củng cố và nâng cao năng lực cho đội ngũ và các em học sinh. Chúng tôi tập hợp các bài viết thành một tập lưu giữ là món quà gửi tặng những ai thích và yêu Ca dao, Dân ca; yêu vốn cổ của Cha Ông ta
Thay mặt những người làm chuyên đề xin trân trọng giới thiệu.
Yên Nhân, ngày 10 tháng 4 năm 2007
Ninh Văn Vàng
---------------------------
Đặc điểm diễn xướng của Ca dao
Khi nghiên cứu về bất kì một thể loại văn học nào thì người ta cũng không thể bỏ qua yếu tố đặc trưng thể loại. Với ca dao cũng vậy, và nói về đặc trưng thể loại của ca dao thì có rất nhiều vấn đề: đề tài, thi pháp, chức năng thể loại,... trong phạm vi bài viết của mình tôi xin đề cập đến vấn đề: “Đặc điểm diễn xướng của ca dao”.
Xét về hình thức diễn xướng ca dao có hai hình thức cơ bản là hát cuộc và hát lẻ:
a) Hát cuộc (hát lề lối, thủ tục)
Đây là hình thức hát tập thể được đưa ra quy mô với hình thực đối ca nam nữ (có thể một tốp nam hoặc một tốp nữ hoặc hai phường, hai họ) thường được tuân thủ theo ba chặng:
* Hát chào, mời đố hỏi
Đây là chặng hát mang tính chất của lời chào hỏi làm quen trong buổi gặp gowx ban đàu của đôi bên nam nữ, cho nên dường như nó mang tính chất trang trọng , xã giao. Họ làm quen mời trầu, mời nước, thử tài, ra điều kiện:
Chẳng hạn bên nữ hát:
- Hỏi chàng quê quán nơi nao
Sao mà chàng biết vườn đào có huê
- Anh là khách lạ đàng xa
Biết đâycó khách đào hoa tới tìm.
-Em dó anh sông nào sâu nhất?
Núi nào cao nhất nước ta?
Anh mà đoán được cho ra
Thì em kết nghĩa giao hoà cùng anh
- Cao nhất là núi Lạng Sơn
Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra
Câu đó anh đã giải ra
Mời người thục nữ giao hoà cùng anh.
* Hát xe kết ( còn gọi là hát kết, hát thương)
Giống như một cuộc tình đã qua đi bước ban đầu khó khăn nhất, bây giờ là lúc bước vào thời kì đằm tthắm,chặng hát xe kết này là tầng tầng, lớp lớp, đầy ắp các cung bậc tình cảm : nhớ mong, giận hờn, trách móc, thề nguyền, ước hẹn:
- Đôi ta như thể con tằm
Cùng ăn một lá cùng nằm một nong
- Tình anh như nước dâng cao
Tình em như dải lụa đào tẩm hương.
* Hát xa cách(hát giã bạn, hát tiễn)
Cuộc vui nào rồi cũng có lúc phải tàn. Những câu giã bạn dường như ướt đầm nước mắt bịn rịn, nhớ thương, dặn dò, quyến luyến:
- Người về em chẳng cho về
Em nắm vạt áo em đề câu thơ
Câu thơ ba chữ dành dành
Chữ trung chữ hiếu chữ tình là ba
Chữ trung thì để phần cha
Chữ hiếu phần mẹ đôi ta chữ tình.
- Người về em những khóc thầm
Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa.
- Người về em có dặn rằng
Đâu hơn người lấy đâu bằng đợi em.
- Người về áo để lại đây
Đêm khuya em đắp gió tây lạnh lùng.
Hình thức hát theo lề lối này rất phổ biến trên mọi miền đất nước từ Bắc chí Nam: hát ghẹo Vĩnh Phú, hát quan họ Bắc Ninh, hát trống quân Thanh Hoá, hát ví phường vải Nghệ Tĩnh, hát giã gạo Quảng Nam, hát đối đáp Gò Công, Nam Bộ, .... diễn ra trong lao động nghề nghiệp, đăc biệt trong các lễ hội mùa xuân.
Trong lời bạt cho cuốn sách Dân ca miền Nam Trung Bộ, cố nhà thơ Xuân Diệu có kể về thời thơ ấu của mình từng được chứng kiến hình thức sinh hoạt văn nghệ này ở mảnh đất Quảng Nam quê ông: Cứ bảy, tám người phụ nữ giã gạo, thì có khoảng sáu, bảy người nam giới đến giã gạo giúp và hát đối đáp. Họ vừa giã gạo vừa hát trong đêm trăng theo hình thức hát cuộc, cũng chào hỏi, đối đáp thử tài, cũng hát thương và rồi hát chia tay. Họ hát say sưa thâu đêm suốt sáng. Có nhiều khi, gạo đã giã xong rồi mà lời hát đối còn chưa muốn dứt, họ lại đổ trấu vào để giã tiếp và hát tiếp. Trong những cuộc hát này cũng có nhiều đôi nên vợ nên chồng, cũng lại có người thua cuộc mà cay cú cắt tóc tuyên bố “giải nghệ" thề không đi hất nữa.
b) Hát lẻ (hát ví vặt, hát ví lẻ)
Đây là hình thức hát tự do không cần tuân thủ lề lối, quy cách như hát cuộc. Người hát có thể hát theo ngẫu hứng khi đang lao động, đang nghỉ ngơi, ví dụ một tốp cô gái thợ cấy đang làm việc dưới cánh đồng, chợt thấy một chàng trai đi qua, các cô gái tinh nghịch cát lên câu hát trêu nghẹo:
- Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại em than vài lời
Đi đâu vội mấy anh ơi
Việc quan đã có chị tôi ở nhà.
- Hôm qua em mất quần thâm
Hôm nay lại thấy anh cầm ô đen.
Qua đây, chúng ta có thể hình dung ra rằng ca dao chỉ thực sự được sống, thực sự là ca dao theo đúng nghĩa của nó (khúc hát) khi nó được đặt trong môi trường diễn xướng (ý kiến của Xuân Diệu ). Và chính lối đối đáp trong ca dao trữ tình ấy đã trở thành nhịp cầu nối liền ca dao dân ca với thơ trữ tình cổ điển và hiện đại, nó làm cho thơ có hương vị ca dao, đậm đà tính dân tộc... chúng ta sẽ thấy rất rõ điều này khi nghiên cứu, học tập về thơ của Nguyễn Du hoặc Tố Hữu.
Ngọc Bích
Nguyễn Thắng @ 00:38 14/10/2014
Số lượt xem: 1325
Các ý kiến mới nhất